Tổng hợp 05 Bản án về Hợp đồng chuyển nhượng đất bằng giấy tay tại Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh

hop-dong-chuyen-nhuong-dat-bang-giay-tay-tai-binh-chanh
NỘI DUNG

1. Tổng hợp 05 Bản án về Hợp đồng chuyển nhượng đất bằng giấy tay tại Bình Chánh

Công ty Luật Phong Gia trân trọng giới thiệu tài liệu “Tổng hợp 05 Bản án về Hợp đồng chuyển nhượng đất bằng giấy tay tại Bình Chánh” do các Luật sư – Chuyên viên pháp lý của Công ty Luật Phong Gia sưu tầm, tổng hợp.

Tài liệu này của chúng tôi phục vụ cho mục đích học tập, nghiên cứu, công tác pháp luật và được chia sẻ hoàn toàn miễn phí. Chúng tôi luôn phản đối việc sử dụng tài liệu này vào các mục đích thương mại và mục đích khác trái pháp luật.

hop-dong-chuyen-nhuong-dat-bang-giay-tay-tai-binh-chanh
STT Nội dung
1Bản án số: 20/2022/DS-ST ngày 17-01-2022 của TAND huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh về việc: “V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ” Ngày 06/09/2002 bà và bà Huỳnh Thị T có lập giấy thỏa thuận chuyển nhượng về việc chuyển nhượng phần đất có diện tích 60m2 thuộc thửa số 294, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại thị trấn Tân Túc huyện Bình Chánh với giá chuyển nhượng 10.500.000 đồng. Sau khi ký giấy thỏa thuận chuyển nhượng trên bà đã giao đầy đủ số tiền trên cho bà Huỳnh Thị T số tiền là 10.500.000 đồng, nhưng cho đến nay bà Huỳnh Thị T không có thiện chí tiếp tục thực hiện theo giấy thỏa thuận ngày 06/09/2002 và bàn giao phần đất trên cho bà. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án tranh chấp nêu trên thì căn cứ theo bản đồ hiện trạng vị trí số: Hợp đồng 13445 ngày 08/11/2019 của Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh thì phần diện tích đất tranh chấp còn lại là 36.7m2 thuộc một phần đất số 96, tờ bản đồ 59, bộ địa chính Tân Túc không đủ diện tích tách thửa theo quy định của pháp luật. Khi mua bán với bà Huỳnh Thị T trên hợp đồng ghi nhận diện tích đất ngang 5m dài 12m. Khi nhận bàn giao đất bà đã nhận đủ diện tích đất mua bán. Tuy nhiên sau này phía gia đình bà Huỳnh Thị T lấn chiếm thêm phần đất đã bán cho bà nên diện tích đo đạc thực tế còn lại là 36.7m2. Việc không thực hiện được thủ tục sang tên là do lỗi của bà Huỳnh Thị T. Do đó, bà yêu cầu Tòa án giải quyết các yêu cầu sau: 1. Yêu cầu Tòa án Tòa án tuyên bố thỏa thuận chuyển nhượng lập ngày 06/09/2002 giữa bà Nguyễn Thị A và bà Huỳnh Thị T là vô hiệu. 2. Yêu cầu bà Huỳnh Thị T trả lại cho bà số tiền đã nhận là 10.500.000 đồng và bồi thường phần thiệt hại phần chênh lệch giá với số tiền 350.460.000 đồng. Ngoài ra bà không yêu cầu bồi thường các chi phí đã bỏ ra tôn tạo san lấp phần đất tranh chấp. Số tiền bà đã bỏ ra để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bà. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Huỳnh Thị T trình bày: Hộ gia đình bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 629 QSDĐ ngày 21/01/2001 đối với phần đất thuộc thửa số 293, 294 tờ bản đồ số 02 bộ địa chính thị trấn Tân Túc, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị A cho rằng vào năm 2002, bà có chuyển nhượng phần đất diện tích 60m2 thuộc thửa số 293, 294 tờ bản đồ số 02 bộ địa chính thị trấn Tân Túc, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh với giá 10.500.000 đồng (Mười triệu năm trăm ngàn đồng) thì bà không đồng ý vì thực tế bà không có ký chuyển nhượng phần đất trên cho bà Ánh. Vì vậy, bà không đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 06/9/2002 diện tích 60m2 thuộc thửa số 293, 294 tờ bản đồ số 02 bộ địa chính thị trấn Tân Túc, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, bà không có ý kiến nào khác.
2Bản án số: 50/2021/DS-ST ngày 21-01-2021 của TAND huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh về việc: “V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ” Do mối quan hệ làm ăn quen biết nên Bà Phạm Thị Thúy D có quen với Bà Lê Thị Ngọc V. Bà V cam kết với Bà D rằng bà là chủ quyền sử dụng đất, có diện tích 40m2 (ngang 4m, dài 10m) thuộc một phần thửa số 67 (lô số 33), tờ bản đồ số 77 tọa lạc tại xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI802751, vào sổ cấp GCN số CH2871, do Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh cấp ngày 09/8/2012, cập nhập biến động chuyển nhượng toàn bộ cho Ông Phạm Minh S. Do hoàn toàn tin tưởng thông tin Bà V cung cấp là thật nên vào ngày 29/10/2018 Bà D và Bà Lê Thị Ngọc V có ký văn bản thỏa thuận và cam kết về việc Bà V sẽ chuyển nhượng cho Bà D phần đất có diện tích 40m2 (ngang 4m, dài 10m) thuộc một phần thửa số 67 (lô số 33), tờ bản đồ số 77 tọa lạc tại xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, với giá 300.000.000 đồng, Bà D đã đưa cho Bà V đủ số tiền nói trên. Bà V cam kết sẽ làm các thủ tục tách thửa cho Bà D theo đúng quy định của pháp luật. Nhưng đến thời điểm này mặc dù Bà D đã nhiều lần yêu cầu Bà V hoàn tất việc tách thửa, sang tên cho Bà D nhưng Bà V không chịu thực hiện. Nhận thấy, Bà D đã giao đầy đủ số tiền theo thỏa thuận chuyển nhượng, việc Bà V không thực hiện tách thửa, sang tên cho Bà D là trái với thỏa thuận của các bên và vi phạm pháp luật ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Bà D. Do đó, Bà Phạm Thị Thúy D yêu cầu Tòa án giải quyết sự việc sau: – Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 29/10/2018 giữa Bà Phạm Thị Thúy D và Bà Lê Thị Ngọc V về chuyển nhượng phần đất có diện tích 40m2 (ngang 4m, dài 10m) thuộc một phần thửa số 67 (lô số 33), tờ bản đồ số 77 tọa lạc tại xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh là vô hiệu. – Buộc Bà Lê Thị Ngọc V phải trả lại cho Bà Phạm Thị Thúy D số tiền 300.000.000 đồng, trả một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. – Đối với hậu quả pháp lý khác khi tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 29/10/2018 vô hiệu thì nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3Bản án số: 11/2020/DSST ngày 14-01-2020 của TAND huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh về việc: “V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ” Tại đơn khởi kiện đề ngày 22/02/2012 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn Bà Nguyễn Thị Nhung trình bày: Năm 2004, bà Nhung và chồng (là ông Nguyễn Minh Tú) có thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Dương Văn Út và bà Võ Thị Phương Hồng. Diện tích đất là 56m2 (khi mua chỉ ước chừng, không đo vẽ thực tế) với giá là 230.000.000 đồng. Phần đất này nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 239QSDĐ/Q1 2004 ngày 05/01/2004 do Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn cấp cho ông Út. Ngày 26/10/2004, bà Nhung và ông Tú có đặt cọc ông Dương Văn Út và bà Võ Thị Phương Hồng số tiền 10.000.000 đồng theo giấy đặt cọc mua bán đất. Ngày 12/11/2004 thì hai bên đã ký hợp đồng mua bán đất. Theo đó, bà Nhung và ông Tú đưa thêm cho ông Út và bà Hồng 170.000.000 đồng; hai bên thỏa thuận. Sau khi sang tên đất thì thanh toán hết số tiền còn lại. Như vậy, bà Nhung và ông Tú đã giao cho ông Út và bà Hồng 180.000.000 đồng. Thời điểm chuyển nhượng thì trên đất có 01 căn nhà lá nhỏ; bà Nhung và ông Tú đã nhận nhà đất, sử dụng và có nộp thuế từ năm 2004 cho đến nay. Đến năm 2005 thì bà Nhung và ông Tú đã sửa chữa và xây dựng thành căn nhà cấp 4 như hiện nay và đã được cấp số nhà. Năm 2009, bà Nhung có kiện ra Ủy ban nhân dân thị trấn Hóc Môn về việc ông Út chậm làm giấy cho bà Nhung. Sau đó, hai bên có thỏa thuận là ông Út sẽ chuyển nhượng thêm cho bà Nhung 3.5m2 kể cả phần dư ra theo hiện trạng để đủ diện tích tách thửa với giá là 50.000.000 đồng. Bà Nhung đưa trước cho ông Út 20.000.000 đồng. Hai bên có lập giấy tay mua bán ngày 08/9/2009. Ngày 10/4/2010, ông Tú chết Ngày 18/4/2010, bà Nhung và ông Út, bà Hồng có ký biên bản mua bán và thỏa thuận. Theo đó, bà Nhung còn giữ lại là 50.000.000 đồng. Khi ông Út, bà Hồng làm thủ tục sang tên cho bà Nhung thì bà Nhung sẽ thanh toán hết phần còn lại. Nhiều lần bà Nhung yêu cầu nhưng ông Út, bà Hồng cũng không làm thủ tục sang tên cho bà Nhung. Vì vậy, bà Nhung khởi kiện yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Út, bà Hồng và bà Nhung (biên bản mua bán và thỏa thuận ngày 18/4/2010). Ông Út, bà Hồng tiến hành các thủ tục sang tên phần đất trên cho bà Nhung. Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì lời trình bày của bị đơn ông Dương Văn Út – có người đại diện theo ủy quyền là bà Dương Thị Minh Thu như sau: Ngày 12/11/2004, ông Út và bà Võ Thị Phương Hồng có chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Nhung và ông Nguyễn Minh Tú 01 miếng đất có diện tích khoảng 56m2 (khi mua chỉ ước chừng, không đo vẽ thực tế), trên đất có 01 căn nhà là nhỏ. Giá trị chuyển nhượng là 230.000.000 đồng. Sau này hai bên có thỏa thuận mua thêm đất, tổng giá trị hợp đồng là 280.000.000 đồng với diện tích 59,5m2. Sau đó, Ủy ban nhân dân thị trấn Hóc Môn đề nghị tháo dỡ căn nhà trên đất để tiến hành thủ tục đo vẽ, tách thửa nhưng bà Nhung không đồng ý. Vì vậy, ông Út không thể sang tên cho bà Nhung được. Ông Út có hỗ trợ cho bà Nhung thủ tục để xin cấp số nhà. Bà Nhung đã cho người khác thuê căn nhà trên hơn 10 năm nay. Thời gian chuyển nhượng đã quá lâu, bà Nhung cũng không thực tế sử dụng nhà đất nên ông Út và bà Hồng không đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng. Ông Út yêu cầu hủy các hợp đồng mà ông Út, bà Hồng đã ký với bà Nhung, ông Tú. Ông Út, bà Hồng sẽ trả lại cho bà Nhung số tiền 200.000.000 đồng đã nhận và bồi thường thêm 200.000.000 đồng, tổng cộng là 400.000.000 đồng.
4Bản án số: 183/2018/DS-ST ngày 14-01-2020 của TAND huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh về việc: “V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ” Ngày 25/10/2003, ông V có ký một hợp đồng mua bán đất bằng giấy tay với ông Y với hai thửa đất như sau: thửa 772, tờ bản đồ số 15, diện tích 300 m2; thửa 517 tờ bản đồ số 15, diện tích đất vườn 578 m2, cộng chung hai thửa diện tích là 878 m2 tại xã P với giá là 740.000.000 đ (bảy trăm bốn mươi triệu đồng ). ông V đã thanh toán đầy đủ số tiền bán đất cho ông Y. Ông Y đã giao cho ông V phần đất chuyển nhượng và hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Y đứng tên. ông V đã san lấp mặt bằng, xây tường rào, xây dựng nhà ở và bị xã P xử phạt xây dựng không xin phép năm 2003. Năm 2008 ông V được Phòng tài nguyên và Ủy ban nhân dân huyện R cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và nhà ở diện tích là 300 m2. Hằng năm ông V thực hiện nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước đầy đủ. Vào thời điểm mua đất của ông Y, ông V là người ở tỉnh Long An nên theo quy định của pháp luật ông Vkhông đủ điều kiện để làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất. Khi ông V được phépsangtênquyềnsửdụngđấtthìôngVcóđếnnhàcủaôngYđểyêu cầuôngYđiđến Phòng công chứng để ký giấy sang tên chuyển nhượng nhưng ông Y từ chối. Bà Nguyễn Thị Duyên D hoàn toàn không có liên quan gì đến việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 772, 517 tờ bản đồ số 15, tại xã P, huyện R của ông Y. Ban đầu khi chuẩn bị mua đất của ông Y, ông V có ý định nhờ bà D đứng tên dùm trong hợp đồng, nhưng sau đó quyết định không nhờ bà D đứng tên dùm mà tự ông V là người đứng tên hợp đồng mua bán nhà đất; ông V sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm đối với việc nếu sau này bà D đưa ra hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất liên quan đến thửa đất số 772, 517 tờ bản đồ số 15, tại xã P, huyện R được ký kết giữa bà D và ông Y. Nay ông V khởi kiện ông Y yêu cầu ông Y phải thực hiện đúng theo hợp đồng mua bán đất ngày 25/10/2003 với diện tích đất còn lại là 578 m2 trong hai thửa đất 772, 517 (thửa đất số 772 tờ bản đồ số 15 diện tích: 165 m2; thửađấtsố772tờbảnđồsố15diệntích:412,5 m2) tờbảnđồsố15,xãP,huyệnR,Thành phố T.
5Bản án số: 134/2022/DS-ST ngày 20/04/2022 của TAND huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh về việc: “V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ” Ngày 06/04/2008, ông có mua lại phần đất bằng giấy tay của bà Nguyễn Thị L, tọa lạc tại ấp 4, xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh; phần đất thuộc thửa đất số 422, tờ bản đồ số 6, xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q322359, vào sổ số 1095/QSDĐ cấp ngày 13/10/2000 cho chủ hộ là bà Mai Thị K đứng tên; Hiện mảnh đất của ông mua lại của bà Nguyễn Thị L đang bị tranh chấp giữa bà Kỳ và ông Thọ nên ông có đến nhà bà Kỳ hỏi sự việc thì bà Kỳ trả lời với ông là đất bà bán cho ông Thọ, nhưng ông Thọ chưa thanh toán hết tiền, mọi người phải chờ thêm thời gian nữa. Nghe bà Kỳ nói vậy ông tin lời bà Kỳ và chờ đợi. Nhưng đến ngày 20/09/2012, hộ bà Mai Thị K lại sang nhượng cho hai người khác là bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm: 1989; Địa chỉ Thôn Thọ Lâm, xã Hòa Hiệp Nam, huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên và ông Đinh Thanh Điệp, sinh năm: 1981; Địa chỉ xóm 12, thôn Lộc Thượng, xã Phước Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Vào khoảng tháng 04/2014, hộ bà Mai Thị K tiếp tục cho người rào và trồng cây lên thửa đất của ông đã mua của bà Kỳ. Tháng 02/2015, bà Mai Thị K chết, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1095 QSDĐ/VLA ngày 13/10/2000 do Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh cấp cho hộ bà Mai Thị K đã được ông Phan Văn T (chồng bà Kỳ) và các con của bà Kỳ là ông Phan Thanh D, ông Phan Thanh T, bà Phan Thanh T1, bà Phan Thị Xuân đăng ký di sản thửa kế tại phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Bình Chánh ngày 26/05/2015 và được tách thành 05 thửa đất số 655, 656, 657, 658, 659, tất cả đều thuộc tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Nay ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị L tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán đất ký ngày 06/04/2008 trên diện tích 65,2m2 thuộc thửa 422, tờ bản đồ số 6 xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại biên bản hòa giải ngày 04/06/2019 và biên bản hòa giải ngày 06/08/2019 ông Phan Hữu T trình bày: Do có nhu cầu mua đất nên ông Phan Hữu T đã xuống ấp 4, xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh và gặp ông Bùi Đình K hỏi mua đất thì ông K có giới thiệu cho ông T biết có miếng đất của bà Nguyễn Thị L ở quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh muốn bán nên ông T đồng ý hẹn gặp bà Liên để xác lập giao dịch. Ngày 06/04/2008, ông T và bà Nguyễn Thị L có ký giấy mua bán sang nhượng nhà đất bằng giấy tay tại nhà ông Bùi Đình K với sự chứng kiến và ký xác nhận làm chứng của ông K, theo giấy mua bán thì ông T mua lại của bà Liên phần đất diện tích 65,2m2 tọa lạc tại ấp 4, xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, thuộc thửa 422 tờ bản đồ số 6, xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q322359 vào sổ số 1095/QSDĐ cấp ngày 13/10/2000 do bà Mai Thị K đứng tên là chủ hộ, nguồn gốc diện tích đất mà bà Liên bán cho ông T là do bà Liên mua của bà Mai Thị K đã được chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Lộc A xác nhận ký tên và đóng dấu; Phần đất của ông T mua lại của bà Nguyễn Thị L đang bị tranh chấp -2- giữa bà Kỳ và ông Thọ nên ông T có đến nhà bà Kỳ hỏi sự việc thì bà Kỳ trả lời với ông là đất bà bán cho ông Thọ, nhưng ông Thọ chưa thanh toán hết tiền, mọi người phải chờ thêm thời gian nữa. Nghe bà Kỳ nói vậy ông tin lời bà Kỳ và chờ đợi. Nhưng ngày 20/09/2012, hộ bà Mai Thị K lại sang nhượng cho hai người khác là bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm: 1989; Địa chỉ Thôn Thọ Lâm, xã Hòa Hiệp Nam, huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên và ông Đinh Thanh Điệp, sinh năm: 1981: Địa chỉ xóm 12, thôn Lộc Thượng, xã Phước Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định; Tháng 4/2014, hộ bà Mai Thị K tiếp tục cho người rào và trồng cây lên thửa đất của ông đã mua của bà Liên. Tháng 02/2015, bà Mai Thị K chết, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 1095 QSDĐ/VLA ngày 13/10/2000 do UBND huyện Bình Chánh cấp cho hộ bà Mai Thị K đã được ông Phan Văn T (chồng bà Kỳ) và các con của bà Kỳ là ông Phan Thanh D, ông Phan Thanh T, bà Phan Thanh T1 và bà Phan Thị Xuân đăng ký di sản thừa kế tại phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Bình Chánh ngày 26/05/2015 và được tách thành 05 thửa đất số 655, 656, 657, 658, 659, tất cả đều thuộc tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 29/05/2019, ông Phan Hữu T đã làm đơn xin thay đổi yêu cầu khởi kiện theo hướng yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng mua bán đất ký ngày 06/04/2008 đối với phần đất có diện tích 65,2m2 thuộc thửa đất số 422, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh được xác lập giữa ông và bà Nguyễn Thị L; ông T cho rằng khi xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hai bên chỉ xác lập bằng giấy tay, đồng thời, ông yêu cầu buộc bà Nguyễn Thị L trả lại cho ông số tiền đã nhận là 125.000.000 đồng và bồi thường cho ông tiền chênh lệch theo thời giá hiện nay, ông sẽ trả lại cho bà Liên toàn bộ lô đất đã nhận chuyển nhượng nêu trên. Tại bản tự khai bổ sung ngày 05/08/2020, ông Phan Hữu T trình bày thêm: Trước đây vào ngày 09/04/2019, ông có viết đơn xin thay đổi yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giấy tay ngày 06/04/2008 và buộc bà Nguyễn Thị L trả cho ông số tiền 125.000.000 đồng (một trăm hai mươi lăm triệu đồng) và bồi thường tiền chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Nay ông đề nghị Tòa án xem xét toàn diện vụ án, làm rõ sự thật của vụ án, nếu có căn cứ buộc ông Bùi Đình K có trách nhiệm trả lại cho ông số tiền nêu trên và bồi thường cho ông theo đúng quy định của pháp luật thì ông cũng đồng ý bởi lẽ tại bản tự khai ngày 28/12/2017 và ngày 24/09/2019 của ông Bùi Đình K thì ông K thừa nhận phần đất mà bà Liên ký tên đứng bán cho ông T thực chất là bà Liên đã mua của ông K trước đó, nhưng sau đó đã bán lại cho ông K với giá 110.000.000 đồng (một trăm mười triệu đồng) và ông K đã tìm được người mua là ông T và bán lại cho ông T với giá 125.000.000 đồng; Điều này đã được ông K thừa nhận đầy đủ trong hai bản tự khai nêu trên và tại phiên tòa hôm nay; nên ông T đề nghị Tòa án buộc ông K có trách nhiệm trả cho ông T số tiền nêu trên theo quy định của pháp luật. Tại Tòa hôm nay, ông Phan Hữu T yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 06/04/2008 đối với phần đất có diện tích là 65,2 m2 thuộc thửa đất số 422, tờ bản đồ số 6, xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh được xác lập giữa ông Phan Hữu T và bà Nguyễn Thị L; Đồng thời, ông Phan Hữu T yêu cầu Tòa án buộc ông Bùi Đình K có trách nhiệm phải hoàn trả lại cho ông Phan Hữu T số tiền mà ông Bùi Đình K đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 125.000.000 đồng và bồi thường cho ông T số tiền chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất theo thời giá thị trường.
hop-dong-chuyen-nhuong-dat-bang-giay-tay-tai-binh-chanh

2. Tổng hợp các File Hợp đồng chuyển nhượng đất bằng giấy tay tại Bình Chánh

File Bản án Hợp đồng chuyển nhượng đất bằng giấy tay tại Bình Chánh số: 20/2022/DS-ST ngày 17-01-2022 của TAND huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh về việc: “V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ”

File Bản án Hợp đồng chuyển nhượng đất bằng giấy tay tại Bình Chánh số: 50/2021/DS-ST ngày 21-01-2021 của TAND huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh về việc: “V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ”

File Bản án Hợp đồng chuyển nhượng đất bằng giấy tay tại Bình Chánh số: 11/2020/DSST ngày 14-01-2020 của TAND huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh về việc: “V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ”

File Bản án Hợp đồng chuyển nhượng đất bằng giấy tay tại Bình Chánh số: 183/2018/DS-ST ngày 14-01-2020 của TAND huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh về việc: “V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ”

File Bản án Hợp đồng chuyển nhượng đất bằng giấy tay tại Bình Chánh số: 134/2022/DS-ST ngày 20/04/2022 của TAND huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh về việc: “V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ”

Bài viết trên đây đã chia sẻ đến bạn đọc về “Tổng hợp 05 Bản án về Hợp đồng chuyển nhượng đất bằng giấy tay tại Bình Chánh”. Nếu bạn đang tìm kiếm Luật sư chuyên về tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng đất bằng giấy tay tại Bình Chánh thì hãy liên hệ ngay với chúng tôi theo thông tin sau:

Công ty Luật Phong Gia

Trụ sở: Số 29, Đường số 55, phường Thảo Điền, Thành phố Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh.

Hotline/zalo: 0931 222 515 (Luật sư Bùi Khắc Long)

Email: lskhaclong@gmail.com                 Website: https://luatsubinhchanh.vn/

☎️
Luật sư Bình Chánh
TƯ VẤN 24/7
ONLINE
📞
Hotline: 0931 222 515
✉️
🌐
Website: luatsubinhchanh.vn
UY TÍN GẶT THÀNH CÔNG
Facebook
Email
Print

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Trong tranh chấp thừa kế, việc xác định hàng thừa kế thứ nhất là rất quan trọng để phân chia di sản hợp pháp. Bài viết này sẽ phân tích chi tiết danh sách những người thuộc hàng này, quyền lợi và những lưu ý pháp lý cần biết.
Giao dịch nhà đất tại TP.HCM đòi hỏi sự cẩn trọng pháp lý. Liên hệ Luật sư Bình Chánh để được luật sư tư vấn hợp đồng mua bán nhà đất TP HCM nhằm kiểm soát rủi ro, cập nhật Luật Đất đai 2024 mới nhất và đảm bảo an toàn giao dịch.
Mua bán nhà đất tại TP HCM tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý. Từ nhà chưa hoàn công, giao dịch vi bằng đến việc không kiểm tra kỹ quy hoạch, đều có thể dẫn đến mất tiền oan. Tìm hiểu ngay các rủi ro cần biết để giao dịch an toàn.
Nắm rõ quy trình mua bán nhà đất TP HCM 2026 là yếu tố then chốt giúp giao dịch thành công. Bài viết hướng dẫn chi tiết 05 bước công chứng, sang tên, kê khai thuế và những lưu ý quan trọng về mã định danh điện tử bất động sản, cũng như rủi ro thường gặp.
Tư vấn mua bán nhà đất TP HCM giúp bạn nhận diện sớm các rủi ro pháp lý tiềm ẩn như quy hoạch treo, tranh chấp ngầm và thủ tục phức tạp. Tránh “mất trắng” tài sản với quy trình thẩm định và sang tên chuẩn pháp lý 2026.